Bài viết

Hiển thị các bài đăng có nhãn khái quát về hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khái quát về hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Ý nghĩa của hoa bằng lăng tím


Ý nghĩa của hoa bằng lăng tím

Ý nghĩa các loài hoa - Ý nghĩa hoa Bằng Lăng Tím
Ý nghĩa của hoa Bằng Lăng Tím

Giới thiệu: Cây Bằng lăng

  • Tên khoa học: Lagertroemia speciosa, thuộc họ Lythraceae
  • Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ là một loài thực vật thuộc chi Tử vi (Lagerstroemia – một tông chi lớn thảo mộc nước to).
  • Tên tiếng Anh thông dụng là: Giant Crape-myrtle, Queen ‘s Crape-myrtle, Banabá Plant for Philippines, Pride of India, Queen ‘s flower.Entravel, Rose of India
  • Cây gỗ lớn, thân cao từ 10 – 15m, vỏ nứt màu nâu đen.
  • Tán lá rậm, hình chóp, rụng vào mùa khô (cành dài mềm hơi rũ xuống). Lá hình bầu dục, cứng, nhẵn, dài đến 20cm, cuống to dài 0,5 – 0,7cm, tròn ở gốc, nhọn ở đỉnh. Cụm hoa là chùm tán khá lớn. Hoa rất đẹp có 5 – 6 đài dính, cánh tràng màu hồng nhạt gồm 5 – 6 cánh nhăn nheo. Nhị nhiều. Quả nang cắt vách hơi tròn dạng trứng, lá đài còn lại xòe ra, quả dài 1,5 – 2cm, rộng 1 – 1,5cm cứng, bên ngoài hơi nhám, hạt có cánh mỏng. Lá, quả làm thuốc. Vỏ nhiều Tanin.
  • Do hoa có màu tím hồng đẹp, nên hiện nay thường được trồng làm cây cảnh quan đô thị. – Gỗ bằng lăngnước màu nâu vàng, dẻo, dùng đóng đồ mộc thông thường hoặc có thể đóng thuyền.
Hoa bằng lăng tím nở - báo hiệu mùa hè về
Hoa bằng lăng tím nở – báo hiệu mùa hè về

Truyền thuyết hoa Bằng Lăng tím

Ngày xưa Ngọc Hoàng có mười hai nàng công chúc. Mỗi người một vẻ , không ai thua ai. Ngọc Hoàng rất thương mười hai nàng công chúa của mình. Một hôm Ngọc Hoàng bảo ta sẽ cho các con làm chúa của các loại hoa dưới nhân gian. Cô công chúa đầu thì đòi làm chúa của loài Hoa Hồng, Cô kế làm chúa loài hoa Mẫu Đơn, rồi Hoa Lan, Huệ, v.v…. Chỉ riêng cô công chúa Út 0 biết mình phải làm chúa hoa gì nữa. Cô lặng lẻ âm thầm đứng yên mãi đến khi Ngọc Hoàng lên tiếng.
- Hỡi nàng công chúa Út của ta, con muốn làm chúa loài hoa nào? Ta sẽ cho con toại nguyện.
Công Chúa Út suy nghĩ mãi vẫn chưa ra thì cô ta nhìn tà áo tím thướt ta của mình. Từ nhỏ cô đã thích màu tím. Vì thế cô xin với Ngọc Hoàng.
- Dạ tâu phụ hoàng, con rất thích màu tím ngây thơ. Xin Phụ Hoàng cho con làm chúa loài hoa mang màu tím.
Ý nghĩa các loài hoa - Bằng Lăng tím nở vào mùa hè
Bằng Lăng tím nở vào mùa hè

Hoa bằng lăng tím

Ngọc Hoàng suy nghĩ mãi mới quyết định cho nàng công chúa Út làm chúa hoa Bằng Lăng Tím.
Cùng lúc đó ở dương gian có chàng thư sinh nghèo, thấy loài hoa tím bằng Lăng vừa xinh lại dịu dàng. Chàng liền lấy về nhà trồng rồi mỗi ngày chàng điều ngắm loài hoa tím. Mỗi năm đến mùa hoa nở chàng thư sinh chết mê mệt với sắc màu tím và dần dần chàng lại đem lòng yêu thương hoa Bằng Lăng Tím. Cũng cùng lúc nàng công chúa Út của chúng ta cũng đem lòng suy mê văn tài của chàng thư sinh. Công chúa xin Ngọc Hoàng được xuống dương gian làm vợ chàng thư sinh. Ngọc Hoàng cương quyết không cho. Cô Công Chúa Út từ đó suy tư và không biết bao nhiêu chàng công tử trên trời đến cầu hôn nàng điều khướt từ. Và từ đó loài hoa Bằng Lăngcàng ngày càng phai nhạt màu tím đi. Chàng thư sinh vẫn một lòng sy tình hoa Bằng Lăng Tím.
Thế nên từ đó loài người cho Hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thủy, sự ngây thơ của màu tím đã tượng trưng cho tình đầu của thuở học trò.
Ngoài hoa tím còn có hoa các màu:
  • Đậm
  • Lợt trắng
  • Hồng
  • Đỏ
  • Tím
Đầu tháng 5 hoa Phượng đỏ và hoa Bằng Lăng tím bắt đầu nở báo hiệu mùa hè đến mùa chia tay bạn bè, thầy cô và mái trường thân thương của các bạn học sinh.
Ý nghĩa các loài hoa: Hoa Bằng Lăng

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Hoa Cẩm tú cầu

Có khoảng 100  loài giống Cẩm Tú Cầu thuộc họ Hydrangeaceae, có loài rụng lá có giống cây nhỏ, leo và bụi cây xanh quanh năm, tìm thấy ở vùng khí hậu lạnh ở châu Á, một vài loài ở châu Mỹ. Cành Cẩm tú cầu dể gãy, ruột rổng , lá xanh đậm có răng cưa . Hoa nở tuyệt, màu sắc hoa biểu hiện tùy thuộc vào ảnh hưởng của đất trồng, nói  chung đất acid cho màu xanh, đất kiềm Alkaline thì cho hoa đỏ hoặc hồng. Hoa nở mùa hè hay xuân. Các loại cây giống được chia làm 2  nhóm: Hotensias khoảng 500 loài và Lacecaps khoảng 20 loài. Lá Cẩm tú cấu khô có vị ngọt có thể dung làm trà.
Lá và củ cây loài Hydrangea macrophylla có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêu chảy, ói mửa.
Hoa Cẩm Tú Cầu còn gọi là Dương Tú Cầu, hay Tử Dương, mọc nhiều ở Đông Á (từ Nhật Bản đến Trung Quốc), Nam Á, Đông Nam Á (Hymalaya, Indonesia) và Châu Mỹ. 

Họ : Hydrangeaceae
Tiếng Trung Quốc gọi là: 繡球花 
Tiếng Anh: Hydrangea Hortensia
Tên Latin: Hortensia Opuloides
Tên tiếng Việt: Cẩm tú cầu
Ý nghĩa: Sự lạnh lùng, vô cảm (Frigidity, Heartlessness, Carelessness)

Là cây thân mộc, thân thảo bụi ưa bóng râm ẩm thấp, sống lâu năm, lá mọc đối theo từng đốt trên thân, hoa vô tính, lúc đầu hoa màu trắng sau biến dần thành màu lam hay màu hồng. Tất cả bộ phân của cây chứa độc tố có thể gây ngộ độc ở người khi ăn phải.

Cẩm tú cầu có nhiều trên Đà Lạt, lá to, hoa mọc thành chùm ở đầu cành, hoa màu hồng, trắng, tím rất đẹp. Cây cho hoa vào mùa xuân hè.

Màu hoa Cẩm Tú Cầu thay đổi phụ thuộc vào độ pH của đất. Nếu đất có độ pH nhỏ hơn 7 (đất chua) sẽ cho hoa màu lam, nếu đất có độ pH là 7 thì cây cho hoa màu trắng sữa, nếu đất có độ pH lớn hơn 7 cây cho hoa màu hồng hoặc màu tím nên có thể điều chỉnh màu hoa thông qua việc điều chỉnh độ pH của đất trồng. Muốn hoa có màu lam vào mùa hè thu bón dung dịch clorua sắt hay có thể chôn vài cây đinh gỉ vào gốc cây, cũng có thể chôn vào đất một ít clorua nhôm, clorua magie. Muốn hoa có màu hồng có thể bón vào đất một ít vôi bột.


















Hoa phượng


Tên khoa học Delonix regia thuộc họ Caesalpiniaceae. Cây thân mộc mềm, đường kính thân cây 60-80cm,tán lá rậm hình dù cành nằm ngang dể bị sâu đục rổng có thể cao hơn 10m nhưng sống không quá 50, 60 năm. Lá kép lông chim hai lần. Tuy lá nhiều nhưng tầng trên không che khuất nắng của tầng dưới nên tàng cây mát dịu và trong sáng. Hoa màu đỏ, cam, mộc thành chùm, mỗi đóa hoa có 5 cánh – 4 cánh xòe và một cánh mọc chỉ thiên. Hoa nở rộ từ tháng 4 đến tháng 6 ở Việt Nam
Cây dễ trồng, thích ứng với nhiều đới khí hậu nên người ta trồng Phượng Vĩ ở nhiều nơi để làm cảnh và lấy bóng mát.

Tán hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của cây phượng vĩ cũng như tàn lá màu xanh lục sáng làm cho ta dễ nhận diện cây này.
Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.
Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ hơi cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng hoặc cam/vàng (cũng có khi trắng/đỏ). Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30–50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn
Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi "hoa học trò". Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng vĩ, vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là "thành phố Hoa Phượng Đỏ". Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng vĩ..

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

hoa trà


    trà my hay trà hoa Nhật Bản, sơn trà hoa


      Tên khoa học camellia japoniaca L. Họ chè teaceae. Có tới ba cây hoa cũng có tên trà my là cây hạ liên của ấn Độ mà Đức Phật được sinh ra ở bên cạnh, trong vườn lâm từ ni cây giống cây đa nhỏ, hoa giống hoa sen trắng, rất thơm nở hoa vào mùa Phật Đản, thuộc họ mộc lan và cây thân thảo bò lan trên mặt đất, lá giống lá ngải cứu nhưng nhỏ và dày, hoa giống hoa nhài nở vào mùa xuân.


       Trà my camellia japonica L. là loại hoa hiếm vì rất đắt tiền, chỉ những ai giàu có hoặc chuộng lạ mới dám chơi.


      Cây lá trà my giống như một cây chè, người ta nhận được màu hòa theo dạng lá và màu lá. Là dày tròn và xanh nhạt là trà bạch (gọi là bạch trà). Có nhiều giống bạch trà (trắng, hồng trà màu đỏ, trà thum màu nâu đỏ, trà phấn màu hồng phấn. Có giống đơn một hoa, có giống kép nhiều hoa trên một đài gọi là "bát diện". Có giống nhị dài, có giống nhị bị thoái hóa gọi là "không tâm". Giống trà bạch, trà thâm bát diện không tâm là giống quý nhất, sau giống trà cung phấn màu phấn hồng, đẹp cực kỳ và trà lựu màu đỏ rục. Hoa trà to, đẹp nở rất hài hòa cân đối và nhiều hoa, xong tiếc rằng hoa đẹp mà không thơm nên nhà thơ Nguyễn Khuyến khi già và bị lòa được tặng chậu hoa trà mới xem hoa bằng mũi và " thấy đếch gì đâu . . . " .

     Trà my được trồng vào chậu là chủ yếu, yêu cầu đất tốt nhưng phải là bùn ao hay phù sa phơi thật khô phân bón nhiều nhưng tránh dùng phân mà phải dùng khô dâu hoặc lông xương súc vật ngâm tưới rễ cây khi mới ra non mềm rất được giun dế ưa thích, nên dùng đất phơi ải đã làm chết trứng giun để trồng là điều cần thiết của ngnời chơi thứ hoa này. Trà my sinh trưởng chậm, lâu lớn, hoa nở vào tết tháng 5 - 6 đã ra nụ. Lúc mới trồng nhất thiết phải đặt vào nơi rám mát nhưng khô ráo, nơi có ánh nắng song không trực tiếp gọi là "bán âm bán dương", vài ba năm cây lớn khỏe mới đưa ra ánh nắng được. 

     Nhân giống bằng chiết các cành tơ, nhân nhanh cho nhiều cây thì giâm được bằng cắt các đoạn cành phía ngọn cành nơi chìa ra phía ánh nắng khoảng 18 – 20cm rồi giâm vào đất bùn ao khô sạch, phơi ải che mưa nắng rất cẩn thận vào đâu mùa xuân. Nếu dùng NAA, IAA... 30 - 35 ppm, xử lý càng mau ra rễ.

ngoài trà my còn nhiều loại hoa thuộc hạ trà như:
trà hoa vàng


hải đường


Trà Crapnell hay còn gọi lê trà

Trà vàng Cúc Phương (tại Cúc Phương, Việt Nam)
Trà Vàng lá dầy
Sơn trà lá nhọn
Sơn trà lá dài
Chè bạc hay trà hoa Dormoy
Trà gân


hải đường hoa vàng, trà hoa vàng nhạt

chè xốp, trà hoa Chevalier
trà hoa cam, chè cám, trà hoa cám
trà hoa Gaudichaud
trà dầu quả to
trà hoa (vàng) Gilbert, chè Phú Hộ
trà cuống mảnh
sơn trà Hồng Kông 


chè rừng

trà hoa vàng Hữu Lũng
trà hoa vàng gân lõm
trà hoa Đông Dương
..........................

và đây là bộ sưu tập ảnh hoa trà mà ta tìm được trên mạng